6 nhạc cụ · 4 họ

🪕 Nhạc cụ dân tộc

Sáu cây đàn vẽ đúng dáng thật và chơi được ngay trên hình: gảy vào dây nào thì dây ấy rung, kêu đúng cao độ của nó.

Bật loa lên: mọi tiếng đàn ở đây do trình duyệt dựng ngay lúc ngón tay chạm xuống.

Họ dây gảy Móng gảy hoặc que tre nâng dây lên rồi buông ra.

Đàn bầu một dây

Bấm giữ bất cứ đâu trên hình rồi rê ngang: cần đàn nghiêng theo tay và cao độ luyến theo, đúng cách nghệ nhân uốn cần sừng.

rê ngang để luyến

Bỏ tick để vuốt liền mạch không nấc.

Xuất xứ

Cây đàn một dây chỉ Việt Nam có, được thư tịch ghi lại từ thế kỷ 18 và gắn với hát xẩm, ngâm thơ ở đồng bằng Bắc Bộ. Tên chữ là độc huyền cầm, nghĩa là đàn một dây.

Cấu tạo

Hộp gỗ dài chừng 110 cm, một dây kim loại căng suốt thân, cần đàn bằng sừng trâu cắm ở đầu và xuyên qua nửa quả bầu khô. Đàn ngày nay lắp thêm bộ cảm ứng điện từ vì tiếng mộc rất nhỏ.

Cách chơi

Tay phải đặt cạnh bàn tay vào điểm nút rồi gảy que tre, nên tiếng đàn bầu gần như toàn bồi âm. Tay trái đẩy hoặc kéo cần để nhấn, luyến, rung, vì thế đàn bắt chước được thanh điệu tiếng Việt.

Dải âm
C3–C5 · do uốn cần
Chất liệu
Gỗ, sừng trâu, quả bầu khô
Tiếng ở đây
Âm cơ bản + bồi âm quãng tám, rung 5,5 Hz

Đàn tranh 16 dây

Chạm một dây để gảy, hoặc bấm giữ rồi miết ngang qua nhiều dây để chạy ngón á, ngón vuốt đặc trưng của đàn tranh. Đoạn dây bên phải con nhạn là đoạn để gảy.

chạm vào dây

Xuất xứ

Cây đàn của Việt Nam trong họ đàn tranh Đông Á. Bản Việt định hình 16 dây nên còn gọi là thập lục, có mặt trong nhạc cung đình Huế, ca Huế và đờn ca tài tử Nam Bộ. Đàn đời sau làm thêm loại 17, 19 và 21 dây.

Cấu tạo

Hộp đàn dài 100 đến 120 cm, mặt gỗ ngô đồng khum vòm, khung gỗ cứng khảm trai. Mỗi dây trong 16 dây kim loại đặt trên một con nhạn di động được, cả hàng nhạn xếp thành đường cong vắt qua mặt đàn.

Cách chơi

Ba ngón tay phải đeo móng gảy bằng đồi mồi hoặc kim loại, gảy ở phía bên phải hàng nhạn. Tay trái nhấn, rung, mổ trên đoạn dây bên kia để uốn tiếng sau khi dây đã kêu, đó là chỗ sinh ra chất ngân nga của đàn.

Dải âm
C3–C6 · ngũ cung, 3 quãng tám
Chất liệu
Mặt ngô đồng, khung gỗ cứng, dây kim loại
Tiếng ở đây
Mô hình dây Karplus–Strong
Họ dây kéo Lông đuôi ngựa cọ lên dây, cung còn chạy thì tiếng còn ngân.

Đàn nhị hai dây

Bấm nửa bên trái là dây trong, nửa bên phải là dây ngoài, rồi rê ngang liên tục để cung vĩ còn chạy: kéo càng nhanh tiếng càng to và sáng. Vuốt xuống gần ngựa đàn thì tiếng lên cao.

bấm rồi kéo cung

Xuất xứ

Cây đàn kéo hai dây của Việt Nam, miền Nam gọi là đàn cò vì dáng cần giống cổ con cò. Nhị giữ giai điệu trong chèo, tuồng, hát văn và các phường bát âm đám hiếu, đám hội.

Cấu tạo

Ống nhị bằng gỗ hoặc tre, một đầu bịt da trăn làm mặt rung, cần cắm xuyên qua ống, hai trục vặn, hai dây thường lên rê – la, tức quãng năm đúng. Cung vĩ luồn vào giữa hai dây nên không rút rời khỏi đàn được.

Cách chơi

Nhị không có cần bấm sát, ngón tay chạm dây giữa không trung nên mọi cao độ đều do tai bắt lấy. Nghiêng cung để đổi dây, còn lực ngón tay thì nhấn và rung cho tiếng đàn uốn như giọng hát.

So dây
Thường lên rê – la, quãng năm đúng
Chất liệu
Ống gỗ, da trăn, cung lông đuôi ngựa
Tiếng ở đây
Hai sóng răng cưa lệch, formant da 1,15 kHz, tiếng cọ cung
Họ hơi Cột hơi trong ống mới là cái kêu, ngón tay chỉ quyết định nó dài bao nhiêu.

Sáo trúc 6 lỗ, tông Đô

Chạm vào lỗ nào là bịt lỗ đó và mọi lỗ bên trái nó, đoạn ống sáng lên chính là cột hơi đang kêu. Rê ngang để chuyển nốt trong cùng một hơi.

chạm vào lỗ bấm

Xuất xứ

Ống sáo ngang bằng trúc hoặc nứa, quen thuộc ở làng quê Bắc Bộ. Người chơi gọi tên sáo theo nốt trầm nhất của nó, nên sáo đô là sáo tông Đô, sáo sol là sáo tông Sol.

Cấu tạo

Một đoạn ống, đầu trên bịt bằng chính mấu trúc, một lỗ thổi và sáu lỗ bấm. Sáo Việt không dán màng rung như địch tử Trung Hoa, nhờ vậy tiếng trong và mộc.

Cách chơi

Môi dưới che một phần lỗ thổi, luồng hơi thổi chếch vào mép ngoài. Thổi mạnh hơn thì cả thang âm vọt lên một quãng tám; các nốt thăng giáng phải bịt nửa lỗ, còn lưỡi và hơi thì thêm ngón đánh lưỡi, luyến, rung.

Dải âm
C5–C6 · sáo thật đi 2 quãng tám
Chất liệu
Một ống trúc hoặc nứa
Tiếng ở đây
Sóng tam giác mềm + tiếng hơi lọc dải
Họ gõ Một cú gõ là một tiếng, gõ vào chỗ nào thì tiếng ra chất ấy.

Trống cơm hai mặt

Vỗ vào mặt nào cũng được. Vỗ giữa mặt ra tiếng tùng tròn và ngân, vỗ ra sát vành thì tiếng đanh và cụt, đúng như trên mặt da thật.

vỗ vào mặt trống

Xuất xứ

Trống thân dài hai mặt, đeo ngang bụng, có trong phường bát âm và trong chèo, tuồng. Phần đông người Việt biết nó trước tiên qua bài dân ca Bắc Bộ mang chính tên trống.

Cấu tạo

Tang gỗ hình ống, hai đầu bịt da, hai mặt to nhỏ khác nhau để đối đáp với nhau. Tên trống đến từ cách chỉnh: người ta giã cơm nếp rồi dán một nắm vào giữa mỗi mặt, sức nặng của nó kéo cao độ xuống cho hai mặt ăn nhau.

Cách chơi

Hai tay vỗ bằng lòng bàn tay và ngón tay, mỗi tay một mặt. Lòng bàn tay vỗ giữa cho tiếng trầm, đầu ngón tay vỗ vành cho tiếng đanh, hai mặt thay nhau tạo nhịp đưa nôi mà bài hát bắt chước theo.

Hai mặt
122 Hz mặt lớn · 178 Hz mặt nhỏ
Chất liệu
Tang gỗ, mặt da, cơm nếp chỉnh tiếng
Tiếng ở đây
Bồi âm màng tròn 1 / 1,59 / 2,14 / 2,30 / 2,65

Đàn đá 12 thanh

Gõ một thanh, hoặc bấm giữ rồi quét ngang để chạy cả dàn. Dùi gỗ nhảy tới đúng thanh vừa gõ; thanh to tiếng trầm và ngân lâu, thanh nhỏ trong như tiếng kim loại.

gõ vào thanh đá

Xuất xứ

Bộ Ndut Liêng Krak tìm thấy ở Đắk Lắk năm 1949, khoảng 3.000 năm tuổi, nay trưng bày tại bảo tàng Musée de l'Homme, Paris. Sau đó còn tìm thêm nhiều bộ ở Khánh Sơn, Bác Ái, Tuy An, đủ để xếp đàn đá vào hàng nhạc cụ cổ nhất còn gõ ra tiếng.

Cấu tạo

Các thanh đá sừng hoặc riolit ghè đẽo bằng tay, gọt dần tới khi đúng tiếng. Thanh dài và dày cho tiếng trầm, thanh ngắn và mỏng cho tiếng bổng, một bộ có từ ba thanh tới hơn chục thanh.

Cách chơi

Gõ bằng dùi gỗ, đá đặt trên giá hoặc treo dây. Đá không ngân theo bồi âm ngay ngắn như dây đàn, nên tiếng có cạnh kim khí và mỗi thanh giữ một chất riêng.

Dải âm
C4–D6 · ngũ cung, 12 thanh
Chất liệu
Đá sừng hoặc riolit ghè tay
Tiếng ở đây
Bồi âm thanh gõ 1 / 2,76 / 5,4 + tiếng cạch của đá